Bàn thêm về mục tiêu đào tạo ngành Thư viện thông tin trong một thế giới hội nhập

Bàn thêm về mục tiêu đào tạo ngành Thư viện thông tin trong một thế giới hội nhập. Ths.Võ Công Nam – Trưởng khoa Thư viện Thông tin Trường Đại học Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh

 

BÀN THÊM VỀ MỤC TIÊU ĐÀO TẠO NGÀNH THƯ VIỆN THÔNG TIN TRONG MỘT THẾ GIỚI HỘI NHẬP 

Ths.Võ Công Nam – Trưởng khoa Thư viện Thông tin.

Trường Đại học Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh

 

The training goal is the most important factors in ensuring the training quality. The goal must meet the demand of social human resources. The current one for library information in Viet Nam has many inadequacies, did not match the information society and the integration world. The trainging goal for library information needs to be properly changed corresponding to the challenges and opportunities of the information society with information technology and the trend of global integration. The goal for library information should aim at the content.

 

 1. Đặt vấn đề:

          Chất lượng đào tạo luôn có ý nghĩa quyết định cho tương lai của một quốc gia. Chất lượng đào tạo tùy thuộc vào một hệ thống các yếu tố như mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo; chính sách nhà nước, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất phục vụ việc đào tạo; trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất của xã hội và mức sống của người dân… Trong những yếu tố trên đây, mục tiêu đào tạo là yếu tố quan trọng. Mục tiêu đào tạo sẽ qui định nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, chất lượng và trình độ của giảng viên, chính sách đầu tư của nhà nước…

Mục tiêu đào tạo luôn được xác định căn cứ vào nhu cầu nhân lực của xã hội đương đại. Nghề thư viện đã hình thành gần 5000 năm. Trong hơn 5000 năm đó, sứ mệnh của nghề thư viện cũng đã thay đổi theo yêu cầu của thời đại. Thời cổ đại, nghề thư viện đảm nhiệm việc tập trung và tổ chức vốn tài liệu xã hội nhằm bảo tồn nền văn minh của nhân loại. Thời trung và cận đại, sứ mệnh của thư viện là đáp ứng nhu cầu tri thức cho đội ngũ những nhà trí thức thông qua việc tổ chức bộ máy tra cứu và tổ chức dịch vụ cung ứng tài liệu tại chỗ. Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, với xu hướng “dân chủ hóa” sự nghiệp thư viện, nghề thư viện có trách nhiệm tạo điều kiện để công chúng có thể tiếp cận và khai thác các nguồn lực của thư viện một cách thuận lợi và hiệu quả.

Ngày nay, thế giới đang bước vào một xã hội mới “xã hội thông tin”, thông tin đã trở thành nguồn tài nguyên quan trọng nhất của xã hội. Ngành thư viện thông tin đang đứng trước những thách thức và những thời cơ của thời đại mới: Hiện tượng bùng nổ thông tin và nhu cầu thông tin, cuộc cách mạng công nghệ thông tin và xu hướng toàn cầu hóa. Việc xem xét lại mục tiêu đào tạo ngành thư viện thông tin thích ứng thời đại mới là hết sức quan trọng và cần thiết.

2. Thực trạng mục tiêu đào tạo ngành thư viện thông tin hiện nay ở Việt Nam.

Chịu trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực thư viện thông tin ở Việt Nam hiện nay gồm 7 cơ sở đào tạo chính: Đại học Văn hóa Hà Nội, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Đại học Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh, Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội, Đại học Cần Thơ, Đại học Dân lập Đông Đô. Gần đây, một số trường đại học, cao đẳng sư phạm ở các địa phương cũng tham gia đào tạo ở bậc cao đẳng. Mục tiêu và nội dung đào tạo của các trường nhìn chung đều giống nhau (trừ trường Đại học Dân lập Đông Đô, Trường Đại học Cần Thơ, đào tạo chuyên về thông tin học và quản trị thông tin). Hầu hết các cơ sở đào tạo nói trên đều xây dựng chương trình đào tạo trên cơ sở chương trình đào tạo ngành thư viện của Liên Xô (cũ) đã được hình thành từ hơn 50 năm nay. Chương trình đào tạo này nhằm cung cấp cho xã hội những “công chức” có kiến thức và kỹ năng phát triển tổ chức vốn tài liệu và nguồn lực thông tin, tổ chức việc tiếp cận, khai thác và sở hữu tri thức trong các thư viện công cộng hoặc trường học như là những thiết chế văn hóa cộng đồng do nhà nước quản lý.

Mục tiêu đào tạo này xem ra không còn phù hợp với những đặc điểm của xã hội trong “kỷ nguyên thông tin” và thế giới hội nhập. Xã hội mà trong đó, tri thức thông tin đã thật sự là một dạng tài nguyên quan trọng nhất của xã hội mà việc khai thác, tái cấu trúc và sử dụng nó chắc chắn sẽ đem lại lợi ích to lớn trong mọi lĩnh vực và cho toàn xã hội. Thư viện ngày nay không còn chỉ là một “thiết chế văn hóa”, sách ngày nay không còn chỉ là một “di sản văn hóa” sách vở trở thành nơi tích tụ thông tin trữ lượng lớn, mật độ cao, thư viện trở thành “nhà máy khai thác, chế biến và cung ứng tài nguyên thông tin” chủ yếu của xã hội.

Mục tiêu đào tạo này, như nhận xét của PGS.TS. Nguyễn Hữu Hùng “chỉ thích hợp với thời kỳ kinh tế mệnh lệnh, chỉ huy theo kiểu bao cấp” [.6.]. Căn cứ vào mục tiêu này, nội dung đào tạo được thiết kế nghiêng về khía cạnh đào tạo “cán bộ” hơn là đào tạo “chuyên gia”. Sinh viên ngành Thư viện thông tin khi ra trường, như nhận định của PGS.TS. Nguyễn Hữu Hùng: "Chưa đáp ứng được các yêu cầu thực tế tại các cơ sở tuyển dụng. So với sinh viên ra trường từ nhiều ngành khác, sinh viên ngành thư viện thông tin còn kém chủ động, tính sáng tạo có nhiều hạn chế, ý chí vươn lên chưa cao” [.6.]

3. Hướng đến một mục tiêu đào tạo ngành Thư viện thông tin tương hợp với yêu cầu của thời đại.

Xã hội của kỷ nguyên thông tin hôm nay đang đặt ra cho ngành thư viện thông tin những sứ mệnh như sau:

1- Kiểm soát có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin của xã hội đang gia tăng, phân tán và lạc hậu một cách nhanh chóng.

2- Khai thác, tái cấu trúc, tích hợp tổ chức lưu trữ và trình bày nguồn tài nguyên ấy theo các nhu cầu khác nhau của xã hội.

3- Phát hiện, kiến tạo và đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội một cách hợp lý và hiệu quả.

4- Phối hợp và chia sẻ các nguồn lực thư viện thông tin trên phạm vi toàn cầu.

          Để đạt được mục tiêu trên đây, nghề thư viện phải nhanh chóng chuyển từ việc quản lý tư liệu sang quản lý tri thức - phải chú ý đến “phần hồn”, phần nội dung của tư liệu hơn là các giá trị vật chất của nó.

          Khoảng từ 5 – 7 năm trở lại đây, một ngành công nghiệp mới đã hình thành Công nghiệp nội dung (CNND). CNND đã phát triển với một tốc độ rất nhanh ở các nước phát triển và một số nước đang phát triển. Doanh thu của CNND toàn cầu dự kiến đạt 75 tỉ USD vào năm 2002 và 420 tỉ USD vào năm 2010. Thế nhưng theo số liệu phân tích, năm 2002 doanh thu của CNND đã đạt 172 tỉ USD và năm 2006 đã đạt đến 430 tỉ USD. Doanh thu của ngành CNND đã vượt qua rất nhiều các ngành công nghiệp truyền thống khác. Ngành CNND hiện nay bao trùm rất nhiều lĩnh vực như giáo dục, giải trí, thương mại, sức khoẻ… trên môi trường số và môi trường mạng. Đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính thức về CNND. Ngành thư viện thông tin cũng được xem là một bộ phận và là một bộ phận then chốt của ngành CNND. Công nghiệp nội dung, xem xét trên góc độ thư viện thông tin là: “Ngành công nghiệp thu thập những thông tin cùng loại theo yêu cầu, tiến hành phân tích nội dung, phân loại, chọn lọc và tìm cấu trúc lưu trữ thích hợp trên các vật mang tin điện tử như đĩa mềm, đĩa CD, lưu trong bộ nhớ hoặc đặt trên mạng máy tính… đóng gói thông tin thành các cơ sở dữ liệu có thể nhân sao và bán” [.1.].

          Theo định nghĩa trên đây, nguyên liệu đầu vào của ngành CNND là thông tin và sản phẩm đầu ra cũng là thông tin, nhưng đó là những thông tin đã tinh chế, tích hợp và tái cấu trúc định hướng người dùng hoặc cho một hoạt động kinh tế - xã hội nào đó.

          Mặt khác tài sản trí tuệ nhân loại tăng trưởng rất nhanh. Theo sự tính toán của một số tổ chức, năm 2002, tài sản ấy được lưu giữ khoảng 6 tỉ GB. Đến năm 2006, 2007 lượng kiến thức cần lưu trữ sẽ là 57 tỉ GB [.2.]. CNND sẽ là giải pháp hữu hiệu để thư viện lưu trữ và cho phép giao tiếp, chia sẻ nguồn tài nguyên tri thức thuận lợi cho mọi người.

4. Kết luận:

          Các trung tâm thông tin thư viện đang sở hữu một lượng tài nguyên trí tuệ rất lớn. Nguồn tài nguyên này có nguy cơ bị “chết đi” trước khi được xã hội biết đến. Việc phát triển ngành công nghiệp nội dung trong hoạt động thư viện thông tin, nhất là đối với các quốc gia còn nghèo như nước ta là một giải pháp không chỉ có khả năng làm“sống lại” nguồn tài nguyên này mà còn là một việc làm có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Hình ảnh một chuyên viên thư viện thông tin năng động, một nhà tư vấn tri thức của xã hội, một người có khả năng phát hiện, khai thác đánh giá tích hợp và tái cấu trúc thông tin phù hợp với các yêu cầu của cá nhân và xã hội là mục tiêu đào tạo cần hướng tới trong xã hội thông tin và hội nhập hiện nay. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Hoàng Thị Thu Hương. Công nghiệp nội dung và một vài giải pháp phát triển ở Việt Nam. Tham luận hội thảo khoa học. _Đồ Sơn_ 29-06-2006.

2.     Lê Tiến. Ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông, mở rộng vốn tài liệu cho hệ thống thư viện. Tham luận hội thảo khoa học. _Đồ Sơn_ 29-06-2006.

3.     Mai Hà. Thông tin khoa học và công nghệ và công nghiệp nội dung. Tham luận hội thảo khoa học. _Đồ Sơn_ 29-06-2006.

4.     Nguyễn Bắc Hà. Công nghiệp nội dung số. Tham luận hội thảo khoa học. _Đồ Sơn_ 29-06-2006.

5.     Nguyễn Chí Công. Công nghệ nội dung và công nghiệp nội dung. Tham luận hội thảo khoa học. _Đồ Sơn_ 29-06-2006.

6.     Nguyễn Hữu Hùng. Nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực cho hệ thống các thư viện và trung tâm thông tin thư viện// Kỷ yếu hội thảo khoa học. Thư viện quốc gia trong tiến trình phát triển của sự nghiệp thư viện Việt Nam.- Hà Nội. 29-11-2007.

7.     Vũ Văn Sơn. Công nghệ nội dung, bước phát triển mới trong ứng dụng công nghệ thông tin. Tham luận hội thảo khoa học. _Đồ Sơn_ 29-06-2006.

big band mp3 downloads


Số lượt đọc: 1503  -  Cập nhật lần cuối: 08/09/10 04:06:01