Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí Minh



ĐỀN QUAN LỚN TUẦN TRANH Ở NINH GIANG – HẢI DƯƠNG

Email In PDF.

 Trần Thanh Tuấn (lớp Vhh 1 -  Khoa Văn hóa học)

             Sừng sững uy nghiêm bởi những đền đài tập hợp nhiều hạng mục, đền Tranh là một quần thể di tích lớn thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Ngôi đền tích hợp một khoảng thời gian và không gian thần thoại, tập hợp những nét đặc sắc trong kho tàng văn hóa dân gian của cư dân đồng bằng châu thổ sông Hồng, cái nôi của nền văn minh lúa nước.

 

            Đền Tranh gắn với những truyền tích ly kỳ về sự tích vị thần đất Tranh Xuyên – một nhân vật đặc biệt đã được người đời sau thêu dệt thành huyền thoại. Từ ngàn xưa, nơi này âm vang những lời xưng tụng đậm chất sử thi, cộng hưởng cùng tiếng sóng sông Tranh hào hùng và tha thiết.

             Không chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh, đền Tranh còn là địa chỉ đỏ gắn với các thời kỳ đấu tranh cách mạng. Thời tiền khởi nghĩa, đây là nơi hoạt động của Xứ Ủy Bắc Kỳ, nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng, tiêu biểu như đồng chí Lê Thanh Nghị đã về gây dựng, phát triển phong trào. Ngày 02/09/1945 chính quyền, nhân dân Ninh Giang đã tổ chức mít tinh chào mừng Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 02/09 tại đền Tranh. Cũng tại địa chỉ này, năm 1946 du kích Ninh Giang và bộ đội chủ lực đã đào hầm bí mật, thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Năm 2005, đền Tranh được UBND tỉnh Hải Dương công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh (thành phố); tháng 10 năm 2009, được Nhà nước chính thức công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia.

            Theo tư liệu thành văn và truyền ngôn dân gian, thời Trần (1225 – 1400) hai làng Tranh Xuyên nay thuộc Ninh Giang, Hải Dương và Tranh Chử thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng hợp thành làng Tranh Chung (Tổng Bất Bế, huyện Vĩnh Lại, Phủ Hạ Hồng). Vùng này có ngôi đền cổ (đền Tranh) rất linh thiêng thờ một vị thủy thần – “Tranh Giang Đại Vương Hợp Tôn Thần”. Đây là di tích sớm hình thành ở huyện Ninh Giang, Hải Dương. Lúc đầu chỉ là ngôi miếu nhỏ nằm sát ngã ba sông Tranh giao thoa với sông Luộc. Do sự tác động của thủy triều và dòng nước xoáy, bờ sông bị xói lở nên đến năm 1935, đền Tranh được dời chuyển về khu vực cánh đồng trên khuôn viên rộng 05 mẫu Bắc Bộ tại làng Tranh Xuyên, nay thuộc thị trấn Ninh Giang. Đến giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX, đền Tranh được tôn tạo với quy mô khá lớn, kiến trúc theo kiểu Trùng thiềm điệp ốc với những cung và gian thờ khác nhau. Năm 1946, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, nhiều hạng mục ngôi đền bị tháo gỡ. Đến những năm 60 của thế kỷ XX, đền được chuyển về phía bắc của thị trấn Ninh Giang cách đền cũ khoảng 300m, nay thuộc địa phận thôn Tranh Xuyên, xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang. Đền Tranh qua ba lần chuyển dời cùng nhiều lần trùng tu tôn tạo, đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử và tích hợp được nét đẹp của văn hóa Việt.

            Xung quanh nhân vật được thờ phụng còn lưu truyền khá nhiều câu chuyện hấp dẫn có gốc gác và thời điểm lịch sử khác nhau, có cả những nhân vật có thật trong lịch sử và những nhân vật huyền thoại. Có tích cho rằng Tranh Giang Đại Vương chính là Cao Lỗ Vương – một vị thiên thần giỏi thủy chiến có tài làm lẫy nỏ thần giúp Hùng Vương thứ 18 diệt giặc ngoại bang. Theo “Thuyết Trần([1]) (ghi sử nhà Trần) thì đền Tranh thuộc phủ Ninh Giang thờ Quan lớn Tuần Tranh chính là con trai trưởng của Trần Hưng Đạo, tức Hưng Võ Vương Trần Quốc Nghiễn, ông từng lãnh trách nhiệm tuần phòng vùng sông nước Lục Đầu và Ninh Giang.

           Tìm về làng Dục, xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương thì tại đây lưu truyền câu chuyện về ông Cộc, ông Dài. Chuyện kể rằng, thời Hậu Lê có hai vợ chồng ông bà Đặng Chân (Đặng Công) và Vũ Thị Đức hiền lành, cần kiệm và đức độ nhưng lại muộn con. Một lần, vợ chồng Đặng Công nhặt được hai quả trứng đem về nhà ấp, sau nở thành hai con giao long, ông bà thương quý và nuôi dưỡng đôi giao long như con. Sau này hai ông bà tuổi ngày càng cao, sức yếu không thể nuôi nổi bèn mang thả ra sông, đôi giao long ấy thường tạo sóng dữ gây khó khăn cho thuyền bè qua lại. Khi vua đem quân đi dẹp giặc, đôi giao long đã hiện thân thành hai tráng sĩ hộ giá quân triều đình thắng trận. Đất nước thái bình, sau đó cả hai vị đều hóa, triều đình đã phong làm Thành Hoàng làng Lạc Dục, hiệu là Bạch Long Quân Đại Vương và Hắc Long Quân Đại Vương tức là ông Dài – vị thủy thần Quan lớn Tuần Tranh. Khúc sông Tranh chính là nơi vị thủy thần đã hóa sau khi phù vua trừ giặc ngoại xâm, giữ yên bình cho xã tắc. Dân Hà Hải tôn hai ông Cộc, ông Dài làm Thành Hoàng, xây đình và đền bên dòng sông Luộc để tri ân, không quên tôn kính, phụng thờ nhang khói. Trong tâm thức người dân Hà Hải, ông Cộc, ông Dài là hai vị thần đã che chở cho dân làng vượt những gian truân, giữ đất này bình an, thịnh vượng.

              Ngược lên Lạng Sơn thăm đền Kỳ Cùng, theo bút tích được lưu lại từ đời trước thì “đền Kỳ Cùng là nơi có nhiều liên kết mật thiết với vị Quan lớn Tuần Tranh”([2]). Chuyện xưa kể về việc ông mắc lầm lỗi bị vua cha bắt đi đày ở trên dải đất địa đầu Tổ quốc. Sự việc được hiểu với hàm ý sâu xa là ở đây vị tráng sĩ tài giỏi đủ sức trấn giữ một vùng quan trọng trong giải biên cương nước Việt. Di tích lịch sử này hùng vĩ, nên thơ, thiêng liêng và gần gũi, chứa đựng hoài niệm về vị thần đền Tranh với những câu chuyện hào hùng của lịch sử còn âm vang tới tận bây giờ. Những câu chuyện ấy vẫn rung động tâm hồn con dân đất Việt mỗi khi đặt chân đến vùng đất này.

             Thiết nghĩ, chuyện cuộc đời của vị thánh đền Tranh bao năm nay được truyền tụng, được đúc kết và sàng lọc qua thời gian đã trở thành nét đẹp trong văn hóa tinh thần người dân Ninh Giang nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung.

             Đền Tranh trên địa phận đất Tranh Xuyên là khu di tích tập trung dấu ấn, hành trạng và giai thoại để hậu thế nhớ về sự tích Quan lớn Tuần Tranh. Cư dân Việt xưa nay ở vùng đồng bằng châu thổ, luôn chịu sự chi phối của tự nhiên, khát vọng về cuộc sống “nhân khang, vật thịnh” được phản ánh vào sinh hoạt văn hóa. Hàng năm hội đền Tranh được tổ chức vào ba kỳ: tháng 02, tháng 05 và tháng 08 Âm lịch. Theo lệ, hội xuân kéo dài từ ngày mùng 10 đến 20 tháng 2 Âm lịch. Ngày 14 tháng 02 là chính hội. Tương truyền là ngày sinh của Đức thánh Tuần Tranh, đồng thời cũng là ngày kỷ niệm chiến thắng của vua Lê Đại Hành phá Tống vào tháng 02 năm Tân Tị (982). Năm đó, nhà vua đã về đền Tranh tế lễ, thần Tranh giang đã âm phù quân nhà Lê giành thắng lợi. Hội đền Tranh dịp 25/05 là ngày tiệc thánh, theo truyền thuyết là ngày Quan lớn mở tiệc khao quân và cũng là ngày Ngài bị đưa lên biên ải Kỳ Cùng. Trung tuần tháng 08 Âm lịch, ngày 20 đền Tranh tổ chức lễ hội mùa thu là dịp tưởng nhớ đức thánh Trần và kỷ niệm chiến công của quân dân nhà Trần gắn với tích sử Đức Quốc Công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn từng về đây huy động lực lượng đào sông Tranh và chiến thắng quân Nguyên tại đất này. Lễ hội đền Tranh cộng hưởng, dung nạp và tổng hòa các giá trị cũng như hình thức thể hiện đa dạng của văn hóa dân gian với nhiều nghi thức tế lễ, dâng hương, dâng phẩm vật, đồ tiến cúng. Đây cũng là một trong số ít các di tích lớn ở Hải Dương thu hút đông đảo du khách hành hương từ các vùng miền trong cả nước.

            Lễ hội đền Tranh xưa có những nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng là lễ rước nước và hát văn hầu đồng. Tín ngưỡng phồn thực và triết lý dân gian hòa quyện làm cho hội đền Tranh thêm phần sinh động. Hành hương về đây, khách thập phương được thưởng thức nhiều loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng thể hiện một cách sinh động. Tục lễ rước nước thanh thiên từ ngã ba sông Tranh, sông Luộc về dâng cúng là một mỹ tục lâu đời. Nguồn nước ở đây tượng trưng cho sự linh thiêng, sức mạnh của thần (Quan lớn Tuần Tranh). Lễ rước nước thể hiện sự tôn thờ của nhân dân đối với quyền năng của Quan lớn.

          Nét đặc biệt của lễ hội đền Tranh là tục hát văn và hầu đồng. Qua tục lệ này con người có dịp thăng hoa về đời sống tinh thần, được hóa thân vào vai diễn của ông hoàng, bà chúa trong tiếng đàn, sáo quyện với lời ca tiếng hát. Họ tái diễn truyền tích các vị thần, cùng nhiều câu chuyện về những chiến công oanh liệt của tiền nhân. Vẻ đẹp của non sông, đất nước được thể hiện qua những nhịp điệu uyển chuyển, nhịp điệu đảo phách của những điệu đờn, điệu sáo, của lối thả thơ, mượn làn điệu phú nói, phú bình tạo cảm giác bâng khuâng, ấn tượng, dìu dặt, âm vang cùng tiếng sóng sông Tranh. Dự hội đền Tranh, con người như được thanh lọc tâm hồn và gửi gắm khát vọng về một cuộc sống an lành, hạnh phúc.

                                                          *

                                                *                 *

             Với huyền thoại sông Tranh, ta nghe trong sóng Luộc giang như có âm vang những khúc tráng ca lịch sử bởi tâm thức dân gian thăng hoa cùng sử thi và làn điệu chầu văn truyền thống, phản ánh khát vọng và niềm tin vào một cuộc sống thanh bình, tươi đẹp. Truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” đã thổi hồn vào các sự kiện, nhân vật lịch sử thông qua đó định hình những nét đẹp của đời sống tinh thần qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của các thế hệ cư dân Việt Nam.

            Thời kỳ đổi mới, đêàn Quan lớn Tuần Tranh là một trong những trọng điểm văn hóa ở Ninh Giang, Hải Dương trong phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội của vùng, hòa cùng mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đền Quan lớn Tuần Tranh – điểm sinh hoạt văn hóa thú vị, đã và đang góp phần tạo nên sắc thái của vùng đô thị phía nam tỉnh Hải Dương trên đường hội nhập.


([1])Trần Xuân Sinh (2003), Thuyết Trần, Nxb Hải Phòng.

([2]) Thần tích Đền Tranh, Ninh Giang , Hải Dương.